LỜI CHÚA MỖI NGÀY

TẢN MẠN

5/8/16

Thứ năm 04.8. 2016


Lời Chúa: Mt 16, 24-28
24 Rồi Đức Giê-su nói với các môn đệ: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo.25 Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy.26 Vì nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình? 27 “Vì Con Người sẽ ngự đến trong vinh quang của Cha Người, cùng với các thiên thần của Người, và bấy giờ, Người sẽ thưởng phạt ai nấy xứng việc họ làm.28 Thầy bảo thật anh em: trong số người có mặt ở đây, có những kẻ sẽ không phải nếm sự chết trước khi thấy Con Người đến hiển trị.”
Suy nim:
Con đường của người môn đệ Thầy Giêsu là con đường không êm ả.
Ngay sau khi Thầy Giêsu loan báo lần đầu về số phận sắp đến của mình,
Ngài đã nói đến số phận của các môn đệ (cc. 24-28).
Họ được mời chia sẻ cùng một thân phận với Thầy và như Thầy.
Thầy trò sẽ phải đi qua con đường hẹp, con đường của khổ đau và cái chết.
Nhưng cuối cùng con đường ấy dẫn đến phục sinh (Mt 16, 21).
Phục sinh, sự sống, niềm vui, sẽ chiến thắng.
Chiến thắng ấy chỉ mua được bằng khổ đau và cái chết tự nguyện. 
Như thế điều kiện để giữ được sự sống đời sau là dám mất sự sống đời này.
Đây thật là một liều lĩnh của đức tin,
vì nếu không thực sự tin vào đời sau, thì chẳng ai muốn thả mồi bắt bóng.
Cuộc đời này có nhiều điều chân thiện mỹ, có nhiều giá trị đáng trân trọng.
Nhưng lắm khi cũng phải hy sinh chúng cho những giá trị lớn hơn,
cho Đấng là Chân Thiện Mỹ viết hoa, là Giá Trị của mọi giá trị.
Cái tôi của tôi là một giá trị lớn, là quà tặng độc đáo Chúa ban cho tôi.
Chẳng có hai cái tôi giống nhau dưới mắt Chúa.
Cùng với cái tôi, Chúa ban cho tôi tự do, lý trí, trái tim, thân xác…
Chúa còn ban cho tôi vũ trụ vật chất với bao tài nguyên để tôi sống nhờ,
và cả một thế giới với bao cái tôi khác, để tôi sống với như anh em.
Cái tôi là món quà quý nhất Chúa ban cho tôi.
Cái tôi cũng là món quà quý nhất tôi có thể dâng lại cho Chúa.
Nhiều tôn giáo nói đến từ bỏ cái tôi, phá chấp ngã.
Đức Giêsu cũng mời bất cứ ai muốn bước theo Ngài phải từ bỏ chính mình,
không phải vì cái tôi của mình là xấu xa, đáng ghét,
nhưng chỉ vì nó chỉ là thụ tạo trước mặt Đấng Tạo Hóa đã dựng nên nó.
Từ bỏ chính mình là đặt mình ở dưới Thiên Chúa, không coi mình là trung tâm,
và để cái tôi của mình trọn vẹn tùy thuộc vào ý muốn của Ngài.
Thầy Giêsu đã sống từ bỏ mình như vậy trong suốt cuộc đời trần thế.
Ngài luôn sống như một người con thảo, một người được Cha sai.
Lạ thay, chính lúc từ bỏ mình, múc cạn chính mình, hủy mình ra không,
thì Ngài lại được phục hồi chính mình và được siêu tôn trên mọi sự (Pl 2, 9).
Trong Kitô giáo, cái tôi được thanh luyện, nhưng không bị loại bỏ.
Cái tôi ấy cũng không bị Thiên Chúa nuốt chửng hay hòa tan.
“Ai mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy” (c. 25).
 Như thế từ bỏ mình là cách duy nhất để giữ mình cho toàn vẹn.
Chẳng thể nào yêu mến và phục vụ lại không gắn liền với việc từ bỏ mình.
Có khi từ bỏ một định kiến hay tự ái, một quyền lợi hay ảnh hưởng riêng,
cũng khó như một hy sinh mạng sống.
Vác thập giá của mình là vác gánh nặng của bổn phận mỗi ngày,
vác yếu đuối của người anh em mỗi ngày, vác cuộc đời mình mỗi ngày.
Thầy Giêsu đòi chúng ta vác thập giá của mình mà theo Thầy cho đến chết.
Vì Thầy là Con Thiên Chúa, vì Thầy đã lấy lại được sự sống, 
nên chúng ta tin tưởng vác thập giá bước đi sau Thầy.
Cầu nguyn:
Lạy Chúa Giêsu,
trước khi con tìm Chúa, Chúa đã đi tìm con.
Trước khi con thấy Chúa, Chúa đã nhìn thấy con.
Trước khi con theo Chúa, Chúa đã đi theo con.
Trước khi con yêu Chúa, Chúa đã mến yêu con.
Trước khi con thuộc về Chúa, Chúa đã thuộc về con.
Trước khi con phụng sự Chúa, Chúa đã phục vụ con.
Trước khi con từ bỏ mình vì Chúa, Chúa đã nộp mình vì con.
Trước khi con sống và chết cho Chúa, Chúa đã sống và chết cho con.
Trước khi con đặt Chúa lên trên hết,
Chúa đã coi con là hạnh phúc tuyệt vời của Chúa.
Lạy Chúa Giêsu là Thầy của con,
Chúa luôn đi trước con.
Chúa làm trước khi Chúa dạy.
Con hiểu rằng mọi điều Chúa đòi hỏi nơi con
đều chỉ vì lợi ích vĩnh cửu của con mà thôi.
Xin cho con đón nhận những cắt tỉa của Chúa
với lòng biết ơn và rất nhiều tình yêu. Amen.
  Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

22/3/16

Thứ Ba Tuần Thánh 22. 3. 2016




I. LỜI CHÚA: Ga 13, 21-33.36-38
21 Nói xong, Đức Giê-su cảm thấy tâm thần xao xuyến. Người tuyên bố: “Thật, Thầy bảo thật anh em: có một người trong anh em sẽ nộp Thầy.”22 Các môn đệ nhìn nhau, phân vân không biết Người nói về ai.23 Trong số các môn đệ, có một người được Đức Giê-su thương mến. Ông đang dùng bữa, đầu tựa vào lòng Đức Giê-su.24 Ông Si-môn Phê-rô làm hiệu cho ông ấy và bảo: “Hỏi xem Thầy muốn nói về ai? “25 Ông này liền nghiêng mình vào ngực Đức Giê-su và hỏi: “Thưa Thầy, ai vậy? “26 Đức Giê-su trả lời: “Thầy chấm bánh đưa cho ai, thì chính là kẻ ấy.” Rồi Người chấm một miếng bánh, trao cho Giu-đa, con ông Si-môn Ít-ca-ri-ốt.27 Y vừa ăn xong miếng bánh, Xa-tan liền nhập vào y. Đức Giê-su bảo y: “Anh làm gì thì làm mau đi! “28 Nhưng trong số các người đang dùng bữa, không ai hiểu tại sao Người nói với y như thế.29 Vì Giu-đa giữ túi tiền, nên có vài người tưởng rằng Đức Giê-su nói với y: “Hãy mua những món cần dùng trong dịp lễ”, hoặc bảo y bố thí cho người nghèo.30 Sau khi ăn miếng bánh, Giu-đa liền đi ra. Lúc đó, trời đã tối.
31 Khi Giu-đa đi rồi, Đức Giê-su nói: “Giờ đây, Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người.32 Nếu Thiên Chúa được tôn vinh nơi Người, thì Thiên Chúa cũng sẽ tôn vinh Người nơi chính mình, và Thiên Chúa sắp tôn vinh Người.
33 Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy, Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi. Anh em sẽ tìm kiếm Thầy; nhưng như Thầy đã nói với người Do-thái: “Nơi tôi đi, các người không thể đến được”, bây giờ, Thầy cũng nói với anh em như vậy.
36 Ông Si-môn Phê-rô nói với Đức Giê-su: “Thưa Thầy, Thầy đi đâu vậy? ” Đức Giê-su trả lời: “Nơi Thầy đi, bây giờ anh không thể theo đến được; nhưng sau này anh sẽ đi theo.”37 Ông Phê-rô thưa: “Thưa Thầy, sao con lại không thể đi theo Thầy ngay bây giờ được? Con sẽ thí mạng con vì Thầy! “38 Đức Giê-su đáp: “Anh sẽ thí mạng vì Thầy ư? Thật, Thầy bảo thật cho anh biết: gà chưa gáy, anh đã chối Thầy ba lần.”
II. SUY NIỆM:
1. Phản bội
Trong bài Tin Mừng theo Thánh Gioan của Thứ Ba Tuần Thánh, Đức Giê-su tiên báo về hành vi phản bội của ông Giu-đa, bởi vì đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến cuộc Thương Khó của Người:
Thật, Thầy bảo thật anh em: “có một người trong anh em sẽ nộp Thầy.” (c. 21)
Ngay trước đó, trình thuật kể lại việc rửa chân cho các môn đệ (x. Ga 13, 1-20), mà chúng ta sẽ nghe lại trong Thánh Lễ Tiệc Ly vào chiều Thứ Năm Tuần Thánh, cũng được đánh dấu rõ nét bởi hành vi phản bội này: ở phần đầu (c. 2), phần cuối (c 18) và phần giữa (c. 11).
- “Ma quỉ đã gieo vào lòng Giu-đa…” (c. 2 và 27), ở đây Giuđa được nhìn như là nạn nhân của Sự Dữ.
- “Người biết ai sẽ nộp Người” (c. 11), trong lời tường thuật này của thánh sử Gioan, Giuđa được nhìn như là tác nhân.
- “Nhưng phải ứng nghiệm lời Kinh Thánh sau đây: Kẻ đã cùng con chia cơm sẻ bánh lại giơ gót đạp con” (c. 18; trích Tv 41, 10). Trong lời nói này của chính Đức Giê-su, Giuđa được nhìn trong Kế Hoạch cứu độ của Thiên Chúa.
Vậy tại sao Giu-đa phản bội? Về hành động của Giuda, nếu chúng ta so sánh bốn Tin Mừng, chúng ta sẽ nhận ra rằng, mỗi Tin Mừng nói về ông một cách khác nhau. Điều này, cho thấy, hành động của ông phức tạp hơn chúng ta tưởng, nhất là chúng ta chỉ biết hành vi thôi, chứ không thấy được những động lực phức tạp của nội tâm. Tin Mừng theo thánh Mát-thêu nhấn mạnh đến lí do tiền bạc: “Tôi nộp ông ấy cho quí vị, thì quí vị muốn cho tôi bao nhiêu?” (Mt 26, 15). Tuy nhiên, những gì diễn ra sau đó, cho thấy Giu-đa không phải hành động vì tiền: ông đã hội hận và trả lại tiền; nhưng ông đã không mở lòng ra để đón nhận lòng thương xót, nhưng tự làm quan tòa của chính mình. Lời loan báo của Đức Giê-su về Giu-đa ẩn dấu nhiều bí ẩn:
- Lời loan báo hướng tới một người, nhưng ai cũng buồn rầu và thấy mình có liên quan: “Chẳng lẽ con sao?” (Mc 14, 19). Về chuyện này, không ai chắc chắn về mình cả. Có sức mạnh nào đó vượt quá các tông đồ, các môn đệ, vượt quá Giuđa, vượt quá mỗi người chúng ta.
- Đức Giêsu biết trước, nhưng tại sao Ngài như vẫn chấp nhận và thậm chí đón nhận Giuđa, ít nhất là trong bữa ăn này? “Nhóm Mười Hai” cùng tới đầy đủ, cùng vào bàn, cùng ăn (Mc 14, 17); và lời nói này có nguồn gốc từ một Thánh Vịnh, Tv 41, 10. Và sự bao dung này vẫn diễn ra hằng ngày trong Thánh Lễ.
- Lời của Đức Giê-su về Giu-đa là một lời than, chứ không phải chúc dữ: “Bất hạnh cho kẻ nào nộp Con Người: thà nó đừng sinh ra thì hơn!”. Nhưng dù sao, lời này cũng quá nghiêm trọng. Biến cố hoài thai, vốn là một ân huệ, một công trình tạo dựng kì diệu (x. Tv 139, 13), trở nên không đáng có. Chúng ta cũng có thể, liên kết tội của Giu-đa với tội nguyên tổ: vô ơn, ham muốn, nghi ngờ. Nếu là như thế, tội của Giu-đa, là nơi hội tụ của mọi tội. Tội này có nguyên nhân là Con Rắn, và Tội này cũng dẫn đến ơn cứu độ là Thập Giá Đức Giê-su.
- Nhưng đó lại là kế hoạch của Thiên Chúa: “như lời đã chép về Người”; như vậy là làm sao? Đây là mầu nhiệm trên hết mọi mầu nhiệm. Câu chuyện của Giuse trong sách Sáng Thế giúp chúng hiểu được phần nào mầu nhiệm này: “Ông Giu-se nói với họ: Đừng sợ! Tôi đâu có thay quyền Thiên Chúa! Các anh đã định làm điều ác cho tôi, nhưng Thiên Chúa lại định cho nó thành điều tốt, để thực hiện điều xảy ra hôm nay, là cứu sống một dân đông đảo” (St 50, 19-20).
Như thế, bản chất đích thực của hành vi phản bội phức tạp hơn chúng ta tưởng ; thực vậy, cùng với Giuđa, còn có ma quỉ (x. Ga 13, 2 và 27; Lc 22, 3) và hơn nữa cả hai được tháp vào trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Giuđa, và cùng với Giu-đa là Satan, không những không ngăn cản được tình yêu của Đức Giêsu, nhưng vô tình làm cho tình yêu ấy trở nên tuyệt đối và đi đến cùng. Tình yêu đến cùng dành cho các môn đệ, trong đó có Giuđa, cho từng người chúng ta. Chính vì thế, chính khi Giu-đa ra đi, bước vào trong bóng tối, Đức Giê-su nói:
Giờ đây, Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người. Nếu Thiên Chúa được tôn vinh nơi Người, thì Thiên Chúa cũng sẽ tôn vinh Người nơi chính mình, và Thiên Chúa sắp tôn vinh Người
(Ga 13, 31-32)
2. Thất hứa
Khi Chúa báo trước rằng mọi người sẽ vấp ngã vì Chúa, ông Phê-rô đã làm cho mình được nổi bật, với những lời cam kết trung tín: “Ngay cả khi mọi người vấp ngã vì Thầy, phần con, con sẽ không bao giờ vấp ngã”; và khi Chúa nói một cách chính xác với Phêrô rằng ông sẽ chối Chúa đến ba lần ngay đêm hôm ấy trước khi gà gáy, Phêrô nói với Chúa: “Con sẽ không chối Thầy, dù có phải chết với Thầy”.
Và ông Phê-rô đã thực sự thực hiện lời hứa của mình : một mình ông dám đi theo Chúa đang bị giải đi, và vào tận dinh Thượng Tế, dám trà trộn với bọn người làm để theo dõi sự việc (c. 58 và 69a). Chúng ta hãy thán phục sự can đảm của ông. Hơn nữa, ông đã từ bỏ rất nhiều, nhất là quan niệm riêng của ông về Đấng Ki-tô (c. Mt 16, 22)
Dù ở bên ngoài, ông Phê-rô đã có mặt trong cuộc xét xử Đức Giê-su bởi Thượng Hội Đồng từ đầu đến cuối; nếu ông không thấy, có thể nghe nói hoặc hỏi thăm người ta. Ông đã cảm nghĩ như thế nào, nhất là về cách người ta tố cáo, xét xử, lên án và hành hạ Thầy của mình ? Chắc ông đã biết hết ; điều này giải thích tại sao ông chối Chúa, vì đã nghe biết cách người ta xử án và kết quả cuộc xử án, và cũng giải thích tại sao ông đau đớn đến như thế.
* * *
Như Tin Mừng theo thánh Mát-thêu kể lại (x. Mt 26, 69-75), ba lần từ chối tương quan với Đức Giê-su, và càng ngày càng từ chối rõ ràng và mạnh mẽ hơn :
- Một người đầy tớ gái đến bên ông và nói: “Cả bác nữa, bác cũng đã ở với ông Giê-su, người Ga-li-lê đó chứ gì?” Ông liền chối trước mặt mọi người mà nói: “Tôi không biết cô nói gì!”
Đây là câu trả lời tránh né câu hỏi. Hoặc đó là câu trả lời có hai nghĩa : phủ nhận nhưng không hẳn là phủ nhận ; vì thế, người ta có thể yên tâm, không áy náy. Nhưng đó chỉ là hình thức thôi, vì ý muốn phủ nhận là có thật, nhưng được diễn tả bẳng cách nói nước đôi. Cũng giống như chúng ta từ chối khéo, thay vì nói thẳng ra. Nhưng hai lần sau, thì rõ ràng và lần thứ ba quyết liệt hơn lần thứ hai :
- Ông đi ra đến cổng, thì một người tớ gái khác thấy ông, liền nói với những người ở đó: « Bác này cũng đã ở với ông Giê-su người Na-da-rét đấy. » Nhưng ông Phê-rô lại thề mà chối: « Tôi không biết người ấy. »
- Một lát sau, những người đứng đó xích lại gần ông Phê-rô mà nói: « Đúng là bác cũng thuộc bọn họ. Cứ nghe giọng nói của bác là biết ngay. » Bấy giờ ông Phê-rô liền thề độc mà quả quyết rằng: « Tôi thề là không biết người ấy. »
Năng động của tội là như thế, sinh sôi nảy nở và càng ngày càng nghiêm trọng, và trở nên rõ nhất trong cuộc Thương Khó. Năng động của tình yêu cũng thế, nhưng theo chiều ngược lại. Có thể vì tình huống nguy kịch, nên ông Phê-rô chối bỏ tương quan với Chúa cho xong chuyện thôi, chứ trong lòng, ông đâu có đoạn tuyệt với Chúa. Trong cuộc sống, trong nhiều trường hợp, chúng ta không cần phải nói sự thật với bất cứ ai. Nhưng vấn đề ở đây là Chúa đang bị nguy hiểm, còn ông Phê-rô thì tìm cách tránh né nguy hiểm ; hơn nữa, làm như thế là không đúng với điều ông đã hứa : “Con sẽ không chối Thầy, dù có phải chết với Thầy”. Nếu ông không hứa, thì đâu có sao !
Còn chúng ta, chúng ta có chối Chúa hay không ? Có lẽ chúng ta không chối như thế, nghĩa là có người hỏi về tương quan thuộc về Đức Ki-tô của chúng ta, và chúng ta công khai phủ nhận, để được an thân. Nhưng nếu chúng ta xem xét việc chối Thầy của ông Phê-rô không dưới khía cạnh nội dung cụ thể, nhưng dưới khía cạnh hình thức : là đưa ra lời hứa, nhưng không giữ lời hứa của mình, không trung thành với lựa chọn của mình, thì chúng ta đã « chối Chúa » rất nhiều, thậm chí hàng ngày.
Chúng ta hãy nhận ra con người thật của chúng ta nơi hành vi thất hứa và nơi lời nói chối bỏ « tương quan thuộc về » Đức Ki-tô của ông Phê-rô. Chúng ta cũng có thể sống, ý thức hay không ý thức, như người không biết Chúa, không thuộc về Chúa, qua một ánh mắt, một cử chỉ, một hành động, một lối sống trong một giai đoạn nào đó, qua tương quan lệch lạc của chúng ta với người khác hay với « những sự khác ».
3. Thức tỉnh
Chúng ta có thể tự hỏi : điều gì đã làm cho ông Phê-rô thức tỉnh ? Có hai yếu tố. Trước hết là Tiếng gà gáy. Tại sao hành động chối bỏ tương quan thuộc về Đức Giê-su lại gắn liền với tiếng gà gáy ? Cách các thánh sử Mát-thêu, Lu-ca và Gioan kể lại đều giống nhau ở chi tiết này : có tiếng gà gáy, sau ba lần chối. Nhưng thánh Lu-ca thêm một chi tiết thú vị : ông đang chối lần ba, thì gà gáy. Thánh sử Mác-cô kể lại hơi khác một chút : sau lần chối thứ nhất, gà gáy ; sau lần chối thứ hai và thứ ba, gà gáy lần nữa.
Đức Giê-su đã nói với ông Phê-rô : « nội đêm nay, gà chưa kịp gáy, thì anh đã chối thầy 3 lần », ngay trong đêm Đức Giê-su bị bắt, trước khi trời sáng. Như thế, bối cảnh « chối Thầy » là những hình ảnh thiên nhiên mang đầy ý nghĩa : hành động từ chối tương quan thuộc về xẩy ra rất mau ; và đó là hành động thuộc về ban đêm, thuộc về đêm tối, trước khi trời sáng ; thế mà ánh sáng là biểu tượng của sự sống và tương quan thuộc về ánh sáng Đức Ki-tô.
Tiếng gà gáy báo cho người ta thức dậy, sau giấc ngủ. Hành động từ chối thuộc về Thẩy của mình, đến ba lần, đủ nhiều để chúng ta hiểu đó là một giấc ngủ, và là một giấc ngủ mê. Tiếng gà gáy đánh thức ông Phê-rô. Trong Tin Mừng theo thánh Mác-cô, ông Phê-rô cần tới hai lần gà gáy. Còn chúng ta, chúng ta cần mấy lần ? Và tiếng « gà gáy », mà chúng ta cần để thức tỉnh là gì ?
Tuy nhiên, tiếng gà gáy, xét như hiện tượng tự nhiên vẫn chưa đủ. Bởi vì, sau tiếng gà gáy, ông nhớ lại lời Đức Giê-su. Đi đôi với hiện tượng thiên nhiên, cần phải có Lời Chúa nữa. Đó là yếu tố thứ hai. Ông Phêrô nhớ lại lời Chúa đã nói với mình. Đó là chìa khoá của hoán cải: trở về với Lời đã ngỏ cho tôi cách đích thân. Chúa là Tình yêu, và trong tình yêu không có chỗ cho việc chối từ sự trở về, mà chỉ có đón nhận mà thôi.
Bản văn của Tin Mừng theo thánh Luca, còn nói đến một chi tiết rất đánh động : Chúa quay lại nhìn ông (x. Lc 22, 61). Như vậy Phê-rô chối Thầy của mình trong tầm nhìn của Ngài. Như chính chúng ta, mỗi khi chúng ta cách nào đó chối Chúa, chúng ta cũng thực hiện trong tầm nhìn của Chúa, bởi vì Ngài « bao bọc chúng ta cả sau lẫn trước ». Hãy hình dung ra cái nhìn của Chúa đối với ông Phê-rô và đối với chúng ta : Đó là ánh mắt nào ? Giận dữ, trách móc, hay bao dung và tha thứ ? Chúng ta hãy đi vào tâm tình của Chúa mỗi khi chúng ta, cách nào đó chối Chúa.
Chúng ta hãy lắng nghe tiếng khóc của ông Phê-rô và đi vào tâm tư của ông. Chúng ta có bao giờ khóc như thế chưa ? Hay một tâm tình tương tự mỗi khi chúng ta không giữ lời hứa với Chúa ?
* * *
Cần phải cương quyết như thánh Phê-rô, nhưng trong trường hợp này, ông Phê-rô như đụng đến giới hạn của mình mà không biết, nhưng Chúa lại biết rõ. Để theo Chúa đến cùng trên con đường của Chúa, chúng ta không thể duy ý chí và dựa vào sức mình được, nhưng còn phải dựa vào lòng trung tín và lòng thương xót của Chúa. Giáo Hội được xây dựng « Đá Tảng Phê-rô », nhưng « Tảng Đá Phê-rô » lại dựa vào lòng thương xót.
Phê-rô vẫn đáng thương hơn đáng trách. Chúng ta cũng thế, dưới mắt Chúa, chúng ta vẫn đáng thương hơn đáng trách. Nhìn ngắm sự yếu đuối của ông Phê-rô, chúng ta sẽ được an ủi nhiều : một đàng Chúa biết hết, biết tình yêu mỏng dòn của chúng ta dành cho Chúa, nhưng Chúa vẫn bao dung, tin tưởng và không lên án.
Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc

21/3/16

Thứ Hai Tuần Thánh 21. 03. 2016



BA CHỊ EM VÀ MẦU NHIỆM VƯỢT QUA 
CỦA ĐỨC GIÊSU
I. LỜI CHÚA: Ga 12, 1-11
1 Sáu ngày trước lễ Vượt Qua, Đức Giê-su đến làng Bê-ta-ni-a, nơi anh La-da-rô ở. Anh này đã được Người cho sống lại từ cõi chết.
2 Ở đó, người ta dọn bữa ăn tối thết đãi Đức Giê-su; cô Mác-ta lo hầu bàn, còn anh La-da-rô là một trong những kẻ cùng dự tiệc với Người.3 Cô Ma-ri-a lấy một cân dầu thơm cam tùng nguyên chất và quý giá xức chân Đức Giê-su, rồi lấy tóc mà lau. Cả nhà sực mùi thơm.4 Một trong các môn đệ của Đức Giê-su là Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, kẻ sẽ nộp Người, liền nói:5 “Sao lại không bán dầu thơm đó lấy ba trăm quan tiền mà cho người nghèo? “6 Y nói thế, không phải vì lo cho người nghèo, nhưng vì y là một tên ăn cắp: y giữ túi tiền và thường lấy cho mình những gì người ta bỏ vào quỹ chung.7 Đức Giê-su nói: “Hãy để cô ấy yên. Cô đã giữ dầu thơm này là có ý dành cho ngày mai táng Thầy.8 Thật vậy, người nghèo thì bên cạnh anh em lúc nào cũng có; còn Thầy, anh em không có mãi đâu”.
9 Một đám đông người Do-thái biết Đức Giê-su đang ở đó. Họ tuôn đến, không phải chỉ vì Đức Giê-su, nhưng còn để nhìn thấy anh La-da-rô, kẻ đã được Người cho sống lại từ cõi chết.10 Các thượng tế mới quyết định giết cả anh La-da-rô nữa,11 vì tại anh mà nhiều người Do-thái đã bỏ họ và tin vào Đức Giê-su.
II. SUY NIỆM:
Bước vào Tuần Thánh, với bài Tin Mừng của ngày thứ hai hôm nay, Giáo Hội mời gọi chúng ta nhìn ngắm Ba Chị Em, Mác-ta, Maria và Ladarô, trong tương quan với Đức Ki-tô đang bước vào mầu nhiệm Vượt Qua. Xin cho chúng ta cũng biết “đọc lại” đời mình dưới ánh sáng của mầu nhiệm Vượt Qua và định hướng đời mình qui về mầu nhiệm Vượt, như chính Đức Giê-su đã thực hiện cho Ba Chị Em.
Giống như trình thuật kể lại phép lạ Đức Giê-su làm cho anh La-da-rô được hồi sinh, vốn là bài Tin Mừng của Chúa Nhật V, Mùa Chay, năm A, chúng ta được mời gọi chiêm ngắm trong bài Tin Mừng này tương quan của ba chị em Martha, Maria và Ladarô với Đức Giê-su.
Ba chị em, mỗi người mỗi “việc”; và chúng ta cũng có thể hiểu “việc” ở đây theo nghĩa biểu tượng, nghĩa là mỗi người mỗi cách thức phục vụ Đức Giê-su, mỗi người một cách thức đi theo Đức Giê-su, mỗi người một ơn gọi khác nhau; và như thế, mỗi người được mời gọi tôn trọng sự khác biệt của nhau, không giản lược người khác vào mình (nghĩa là buộc người khác phải giống như mình và làm như mình), và cũng không giản lược mình vào người khác (nghĩa là mình muốn giống như người khác và làm như người khác). Điều quan trọng nhất là lòng mến Đức Ki-tô.
1. Cô Mác-ta
Cô Mác-ta lo hầu bàn. Nếu đặt trình thuật Luca (x Lc 10, 38-42) như khởi điểm của hai trình thuật tiếp theo trong Tin Mừng Gioan (x. Ga 11 và 12), chúng ta có thể nhận ra sự “lớn lên” của cô Mác-ta trong tương quan với Đức Kitô, với những người khác và với công việc: chị đã từng quan tâm đến công việc của mình đến độ tuyệt đối hóa nó, nên trách em và trách Thầy : « Thưa Thầy, em con để mình con phục vụ, mà Thầy không để ý tới sao? Xin Thầy bảo nó giúp con một tay! » (Lc 10, 40); tiếp đến, chị thương em Ladarô của chị đến độ trách “yêu” Đức Giêsu: “Nếu Thầy ở đây em con đã không chết” (Ga 11, 32); và sau cùng, ngay trước ngưỡng của cuộc Thương Khó của Đức Giêsu, như bài Tin Mừng hôm nay kể lại, chị chẳng nói gì nữa, chúng ta chỉ nhìn thấy cô âm thầm lo hầu bàn. Giống như Đức Giê-su trong cuộc Thương Khó, chị như đạt được ơn bình an sâu thẳm trong tâm hồn:
- Bình an, nghĩa là nhận ra « những ơn huệ Chúa ban » (x. Ga 10, 10) ; vì thế trong mọi sự, sống và hành động với tâm tình biết ơn.
- Bình an, nghĩa là tự do với mọi sự để yêu mến và phục vụ Đức Giêsu vẫn với và ngang qua công việc phục vụ nhỏ bé không tên của mình.
- Bình an, nghĩa là tôn trọng sự khác biệt nơi những ngôi vị khác và đi vào hiệp thông, nguồn dẫn đến hiệp nhất, thay vì giản lược những ngôi vị khác vào chính mình.
2. Cô Maria
Cô Ma-ri-a lấy một cân dầu thơm cam tùng nguyên chất và quý giá xức chân Đức Giê-su, rồi lấy tóc mà lau. Cử chỉ diễn tả lòng mến Chúa và ước ao trao tặng tất cả cho Chúa. Chị muốn đổ tất cả những gì mình là và những gì mình có vào chân Chúa. Thánh Gioan ghi nhận một chi tiết thật hiển nhiên, nhưng đầy ý nghĩa: “Cả nhà nực Hương Thơm” (c. 3).
Một cử chỉ đầy ý nghĩa như thế, nhưng lại bị người ta nhìn một cách tiêu cực; người ta không chỉ cảm thấy khó chịu trong lòng mà còn tỏ thái độ: họ xầm xì với nhau, rồi sau đó quay ra hằn học với chị (theo Mc 14, 3-9). Người ta đây là những ai? Đó là “một số người” theo Mác-cô, là “các môn đệ” theo Mát-thêu, là “Giuđa” theo Gioan. Tóm lại, họ toàn là đàn ông!
Qua hình ảnh dầu thơm cam tùng nguyên chất và quý giá xức vào chân Đức Giê-su, chúng ta được mời gọi đọc ra tình yêu vô ngần vô hạn mà cô Maria dành cho Đức Giêsu. Nhưng lại có người cho là uống phí và đánh giá quà tặng này bằng tiền bạc! Họ đưa ra những lí do rất hợp lí và hợp tình: hợp lí vì dầu thơm đáng giá cả năm trời làm lụng mà đổ “trớt quớt” đi hết như thế; hợp tình vì nếu đem bán đi sẽ có tiền đi giúp người nghèo. Nhưng những thứ “hợp” này chỉ là vẻ bề ngoài, vấn đề là con tim của họ hướng về đâu: người nghèo, Đức Giêsu hay tiền bạc? Tin Mừng Gioan, qua nhân vật Giuđa, nói thẳng ra đó là vì lòng ham tiền (Ga 12, 6). Người ta cảm thấy tiếc tiền hơn là nghĩ đến người nghèo và càng không nghĩ đến số phận của Đức Giêsu, “Người Nghèo của Giavê”. Người nghèo, nhưng ai là người nghèo? Chẳng lẽ Đức Giêsu không phải là “Người Nghèo” đích thật đáng để nhận một quà tặng như thế?
Cái nhìn của Đức Giêsu là cái nhìn đón nhận, khác hẳn cái nhìn của những người kia: “Hãy để cho cô yên.” Ngài bênh vực chị, một lời bênh vực có tầm mức chưa từng thấy.
- “Cô đã giữ dầu thơm này là có ý dành cho ngày mai táng Thầy”. Đức Giê-su hướng quà tặng của cô Maria tới cuộc Thương Khó mà Ngài sắp trải qua. Như thế, “Hương Thơm Bêtania” được tháp nhập vĩnh viễn vào Cuộc Thương Khó của Đức Giêsu, và cả Sự Phục Sinh nữa, vì hương thơm là biểu tượng của sự sống.
- “Người nghèo thì bên cạnh anh em lúc nào cũng có; còn Thầy, anh em không có mãi đâu”. Đức Giêsu đồng hóa mình với người nghèo (x. Mt 25, 35), nhưng Ngài vẫn muốn mình được ưu tiên hơn mọi người nghèo mỗi khi ngài hiện diện. Bởi vì Ngài là Người Nghèo đích thật của Thiên Chúa (x. 2 Cr 8, 9; Pl 2, 5-11).
3. Anh Ladarô
Anh Ladarô là “sướng nhất”, được ngồi dự tiệc với Đức Giê-su. Ngang qua trình thuật kể lại biến cố Đức Giê-su làm cho anh hồi sinh, chúng ta biết rằng, anh được Đức Giê-su ưu ái đặc biệt: “Thưa Thầy, người Thầy thương mến đang bị đau nặng” (Ga 11, 3), “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết” (c. 21 và 32), “Đức Giê-su liền khóc. Người Do Thái mới nói: kìa xem, ông ta thương Ladarô biết mấy!” (c. 35-36).
Tin Mừng chẳng hề nói một chi tiết nào về con người của anh, về “đức hạnh” của anh; và anh cũng chẳng phải là một trong các môn đệ đã bỏ mọi sự để đi theo Đức Giê-su rong ruổi cực khổ vất vả. Về anh, Tin Mừng như muốn làm nổi bật lên tình yêu nhưng không tuyệt đối Đức Giê-su dành cho anh. Giống như trường hợp của Đức Maria, tình yêu nhưng không tuyệt đối Đức Giê-su dành cho anh, chính là để anh cũng có thể dâng lại vô điều kiện cho Chúa tất cả, để anh thi hành “sứ mạng đặc biệt”, đó là cùng chết với Đức Giê-su và như Đức Giê-su, nghĩa là trong sự hiền lành tuyệt đối không chút phản kháng: “Các Thượng Tế quyết định giết cả anh Ladarô nữa” (Ga 12, 10).
*  *  *
Như thế, cả ba chị em đều thông phần trọn vẹn vào Mầu nhiệm Vượt Qua, chết và phục sinh của Đức Ki-tô, theo cách của mình, bởi lòng mến Đức Giê-su dành cho ba chị em và vì lòng mến mà ba chị em dành cho Chúa.
Giuse Nguyễn Văn Lộc

20/3/16

Chúa Nhật Lễ Lá 20.3.2016





I. LỜI CHÚA: Lc 19, 28-40
28 Nói những lời ấy xong, Đức Giê-su đi đầu, tiến lên Giê-ru-sa-lem.29 Khi đến gần làng Bết-pha-ghê và làng Bê-ta-ni-a, bên triền núi gọi là núi Ô-liu, Người sai hai môn đệ và bảo:30 “Các anh đi vào làng trước mặt kia. Khi vào sẽ thấy một con lừa con chưa ai cỡi bao giờ, đang cột sẵn đó. Các anh cởi dây ra và dắt nó đi.31 Nếu có ai hỏi: “Tại sao các anh cởi lừa người ta ra”, thì cứ nói: “Chúa có việc cần dùng!32 Hai người được sai liền ra đi và thấy y như Người đã nói.33 Các ông đang cởi dây lừa, thì những người chủ nói với các ông: “Tại sao các anh lại cởi lừa người ta ra? “34 Hai ông đáp: “Chúa có việc cần dùng.”
35 Các ông dắt lừa về cho Đức Giê-su, rồi lấy áo choàng của mình phủ trên lưng lừa, và giúp Người cỡi lên.36 Người đi tới đâu, dân chúng cũng lấy áo choàng trải xuống mặt đường.37 Khi Người đến gần chỗ dốc xuống núi Ô-liu, tất cả đoàn môn đệ vui mừng bắt đầu lớn tiếng ca tụng Thiên Chúa, vì các phép lạ họ đã được thấy.38 Họ hô lên:
Chúc tụng Đức Vua, Đấng ngự đến nhân danh Chúa!
Bình an trên cõi trời cao, vinh quang trên các tầng trời!
39 Trong đám đông, có vài người thuộc nhóm Pha-ri-sêu nói với Đức Giê-su: “Thưa Thầy, Thầy trách môn đệ Thầy đi chứ!” 40 Người đáp: “Tôi bảo các ông: họ mà làm thinh, thì sỏi đá cũng sẽ kêu lên! “
(Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV)
II. SUY NIỆM:
Bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe, là một bản văn tương đối ngắn, nhưng đã dành nhiều chỗ cho hình ảnh “CON LỪA CON”. Hẳn là hình ảnh này có vai trò đặc biệt, giúp chúng ta hiều hơn mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Ki-tô.
Người sai hai môn đệ và bảo: Các anh đi vào làng trước mặt kia. Khi vào sẽ thấy một con lừa con chưa ai cỡi bao giờ, đang cột sẵn đó. Các anh cởi dây ra và dắt nó đi. Nếu có ai hỏi: “Tại sao các anh cởi lừa người ta ra”, thì cứ nói: “Chúa có việc cần dùng!”(c. 29-31)
Hai người được sai liền ra đi và thấy y như Người đã nói. Các ông đang cởi dây lừa, thì những người chủ nói với các ông: “Tại sao các anh lại cởi lừa người ta ra? ” Hai ông đáp: “Chúa có việc cần dùng.” (c. 32-34)
Các ông dắt lừa về cho Đức Giê-su, rồi lấy áo choàng của mình phủ trên lưng lừa, và giúp Người cỡi lên. (c. 35)
Và Thánh sử Mát-thêu còn giúp chúng ta nhận ra hình ảnh Đức Giê-su cưỡi lừa là để làm cho lời Kinh Thánh được ứng nghiệm:
Và sự việc đó xảy ra như thế để ứng nghiệm lời ngôn sứ Zacharia: “Hãy bảo thiếu nữ Xi-on: Kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi hiền hậu ngồi trên lưng lừa, lưng lừa con, là con của một con vật chở đồ”
(Mt 21, 5; x. Dcr 9, 9 và Ga 12, 15)
Qua sự tương hợp nhỏ bé này, chúng ta được mời gọi hiểu và cảm rằng mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Ki-tô mà chúng ta cử hành trong Tuần Thánh, hoàn tất lịch sử cứu độ, và ngang qua lịch sử cứu độ, hoàn tất lịch sử loài người và lịch sử cuộc đời chúng ta.
* * *
Như lời ngôn sứ, chúng ta hãy hình dung ra Đức Giê-su hiền hậu ngồi trên lưng lừa tiến vào Giê-ru-sa-lem. Ngài là Đức Vua, Con Vua Đa-vít, Đấng Ngự Đến nhân danh Đức Chúa, nhưng chân dung của Ngài khác hẳn với Vua Chúa trần gian, khắc hẳn với những gì các môn đệ và cả chúng ta nữa mơ ước:
- Ngài thật hiền hậu và gần gũi, thay vì uy nghi và xa cách.
- Ngài ngồi trên lưng lừa, thay vì trên lưng ngựa, biểu tượng của chiến tranh, bạo lực và loại trừ.
- Ngài cũng thật nghèo khó, thay vì giàu sang phú quí, bởi lẽ lừa con là của người ta; Ngài mượn một lúc, rồi sẽ trả lại chỗ cũ ngay (x. Mc 11, 3).
- Ngài được chào đón bằng những gì rất thiết thân và đơn sơ, đó là áo choàng người ta đang mặc, là những nhành lá thô sơ, thay vì bằng những lễ vật quí giá và bằng sự biểu dương lực lượng với sức mạnh của những thứ vũ khí giết người.
Hình ảnh này loan báo cho chúng mầu nhiệm Thập Giá, vì nơi Thập Giá, sự hiền hậu tuyệt đối của Ngài sẽ đối đầu với sự bạo tàn tuyệt đối. Hơn nữa, Thập Giá sẽ là ngai Ngài ngự, không phải để lên án và thống trị nhưng để yêu thương, tha thứ, chữa lành, tái sinh và trao ban sự sống. Đó sẽ mãi mãi là cung cách của Ngài, cung cách của Đức Vua hiền hậu, đến với Dân của Ngài, đến với mỗi người chúng ta, và đi vào con tim của chúng ta.
* * *
Vậy anh chị em thân mến, như dân thành Giê-ru-sa-lem xưa, chúng ta hãy vui mừng lên đường nghênh đón Đức Ki-tô, Vị Vua hiền hậu và nhân từ của chúng ta, không chỉ để tưởng niệm biến cố Người tiến vào thành thánh hay đền thờ, nhưng còn vào lòng chúng ta, vào cuộc đời chúng ta, vào hướng đi của chúng ta, vào những lựa chọn của chúng ta.
Xin Thánh Thần dẫn chúng ta vào chân lý của cuộc Thương Khó và mầu nhiệm Thập Giá của Đức Ki-tô mà chúng ta tưởng niệm trong Thánh Lễ này và trong Tuần Thánh, để con tim chúng ta được chinh phục, nghĩa là yêu mến Người, đi theo Người và trở nên một với Người hơn, trong đời sống đức tin và nhất là trong một ơn gọi, gia đình, thánhh hiến hay độc thân, của chúng ta.
Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc

19/3/16

Thứ Bảy, 19.3.2016 Chúa Nhật V Mùa Chay


 PHÉP LẠ VÀ LÒNG TIN
I. LỜI CHÚA: Ga 11, 45-57
45 Trong số những người Do-thái đến thăm cô Ma-ri-a và được chứng kiến việc Đức Giê-su làm, có nhiều kẻ đã tin vào Người.46 Nhưng lại có những người đi gặp nhóm Pha-ri-sêu và kể cho họ những gì Đức Giê-su đã làm. 
47 Vậy các thượng tế và các người Pha-ri-sêu triệu tập Thượng Hội Đồng và nói: “Chúng ta phải làm gì đây? Người này làm nhiều dấu lạ.48 Nếu chúng ta cứ để ông ấy tiếp tục, mọi người sẽ tin vào ông ấy, rồi người Rô-ma sẽ đến phá huỷ cả nơi thánh của ta lẫn dân tộc ta.”49 Một người trong Thượng Hội Đồng tên là Cai-pha, làm thượng tế năm ấy, nói rằng: “Các ông không hiểu gì cả,50 các ông cũng chẳng nghĩ đến điều lợi cho các ông là: thà một người chết thay cho dân còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt.”
51 Điều đó, ông không tự mình nói ra, nhưng vì ông là thượng tế năm ấy, nên đã nói tiên tri là Đức Giê-su sắp phải chết thay cho dân,52 và không chỉ thay cho dân mà thôi, nhưng còn để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối.53 Từ ngày đó, họ quyết định giết Đức Giê-su. 
54 Vậy Đức Giê-su không đi lại công khai giữa người Do-thái nữa; nhưng từ nơi ấy, Người đến một vùng gần hoang địa, tới một thành gọi là Ép-ra-im. Người ở lại đó với các môn đệ.
55 Khi ấy sắp đến lễ Vượt Qua của người Do-thái. Từ miền quê, nhiều người lên Giê-ru-sa-lem để cử hành các nghi thức thanh tẩy dọn mình mừng lễ.56 Họ tìm Đức Giê-su và đứng trong Đền Thờ bàn tán với nhau: “Có thể ông ấy sẽ không lên dự lễ, các ông có nghĩ thế không? “57 Còn các thượng tế và người Pha-ri-sêu thì ra lệnh: ai biết được ông ấy ở đâu thì phải báo cho họ đến bắt.
II. SUY NIỆM:
Chúng ta thường nghĩ, khi nhìn thấy dấu lạ, thì chắc chắn sẽ tin. Nhưng bài Tin Mừng của Thánh Lễ hôm nay cho chúng ta thấy, trong thực tế tương quan giữa thấy và tin phức tạp hơn chúng ta tưởng; và cũng là như thế ở mọi nơi và mọi thời, mỗi khi có dấu lạ. Thật vậy,
Trong số những người Do-thái đến thăm cô Ma-ri-a và được chứng kiến việc Đức Giê-su làm, có nhiều kẻ đã tin vào Người. Nhưng lại có những người đi gặp nhóm Pha-ri-sêu và kể cho họ những gì Đức Giê-su đã làm. Vậy các thượng tế và các người Pha-ri-sêu triệu tập Thượng Hội Đồng và nói: “Chúng ta phải làm gì đây?” (c. 45-47)
Như thế, chứng kiến hoặc nghe kể lại phép lạ chưa từng thấy: anh Ladarô được Đức Giê-su cho sống lại sau khi đã chôn táng trong mồ bốn ngày, có những người tin nơi Người, nhưng lại có những người xem ra “vô cảm” đi kể lại với người không có thiện cảm với Đức Giê-su, đó là các thượng tế, những người Pha-ri sêu và cả Thượng Hội Đồng Do Thái giáo; và sau khi hội họp, họ quyết định loại trừ Đức Giê-su!
1. Những người tin
Chứng kiến hay nghe nói về phép lạ lớn lao ông Ladarô đã chết, được chôn táng trong mồ bốn ngày, nhưng lại hồi sinh bởi lời của Đức Giê-su, có những người tin nơi Đức Giêsu. Nhưng tin là gì? Đâu là những hệ quả của lòng tin trong cuộc sống, trong những lựa chọn, trong hướng đi, trong cách sống, trong tương quan với Chúa và với người khác? Chúng ta cũng đã nhận ra bao “dấu lạ” Chúa làm trong cuộc đời của chúng ta, chúng ta có tin không? Nếu có tin, thì đức tin đó là đức tin nào? Có biến đổi sâu xa tương quan của chúng ta với Chúa và với “mọi sự khác” không? Thiên Chúa đối với chúng ta là ai, Đức Ki-tô là ai? Niềm tin này có trở thành lẽ sống của chúng ta không?
Như thế, dấu lạ thì chỉ có một lần hay một vài lần thôi, nhưng tin là một hành trình kéo dài suốt đời và đầy khó khăn. Cũng tương tự như hai người trẻ nam nữ, giống như mỗi người chúng ta và Hội Dòng, sau một thời gian tìm hiểu và đến một thời điểm xác định nào đó, được mời gọi trao ban lòng tin cho nhau, nhưng phải sống niềm tin trọn đời. Và đó là một hành trình không dễ dàng và đòi hỏi phải làm mới lại lòng tin yêu không ngừng.
2. Những người không tin
Trước hết, đó là « những người đi gặp nhóm người Phariseu và kể cho họ những gì Đức Giê-su đã làm ». Về những người này, chúng ta chẳng có thể phán đoán gì được về niềm tin của họ nơi Đức Giê-su : họ có tin hay không ? Tin Mừng chỉ kể lại hành động khách quan của họ, là họ đi báo cáo với những người không có thiện cảm với Đức Giê-su !
Nhóm người còn lại là cả một « Thượng Hội Đồng », đại diện cho quyền bính tôn giáo và xã hội ; họ nhìn các dấu lạ Đức Giê-su đã làm với con mắt khác hẳn :
Chúng ta phải làm gì đây? Người này làm nhiều dấu lạ. Nếu chúng ta cứ để ông ấy tiếp tục, mọi người sẽ tin vào ông ấy, rồi người Rô-ma sẽ đến phá huỷ cả nơi thánh của ta lẫn dân tộc ta. (c. 47-48)
Nhận định này chắc là đúng, về phương diện xã hội và chính trị ; nhưng người ta đã lựa chọn sự an toàn của mình, của địa vị, của quyền bính, hơn là đặt những câu hỏi liên quan đến đức tin, hơn là « nhận định thiêng liêng » : Đức Giê-su là ai ? Ngài có đến từ Thiên Chúa không ? Thiên Chúa muốn nói gì với tôi, với dân tộc tôi qua ngôi vị và cung cách hành xử của Ngài ? Chính vì thế, họ đã coi Đức Giê-su là « tên quấy rối » phải tiêu diệt ! Thật vậy, « từ ngày đó, họ quyết định giết Đức Giê-su » (c. 53)!
Lựa chọn sự an toàn của mình, địa vị của mình, quyền lợi của mình, tài sản của mình, thì tất yếu sẽ đi đến hành vi của thú tính, đó là loại trừ bằng sức mạnh, bằng sự gian trá và bằng bạo lực. Có lẽ, nhóm người này nói về con người thời nay, và về chính chúng ta nhiều nhất.
Đức Giê-su làm những dấu lạ để cứu sự sống, nhưng khi làm thế, Ngài lại mang vào mình nguy cơ mất sự sống. Tuy nhiên, Sự Dữ mà con người làm cho Ngài không làm thất bại kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, Ngài dùng chính hành động tiêu diệt Ngài,
- để cho sự dữ hiện nguyên hình và qua đó, giải thoát loài người chúng ta khỏi sự dữ,
- để bày tỏ khuôn mặt đích thật của Thiên Chúa, là tình yêu và chì là tình yêu bao dung và thương xót vô hạn,
- để trao ban sự công chính và sự sống của Ngài cho chúng ta,
- và để « qui tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối ».
3. « Dấu lạ Thập Giá »
Trong cuộc Thương Khó có điểm tới là « Dấu lạ Thập Giá », với thân xác mỏng manh của Con Thiên Chúa nhập thể, Đức Giê-su được mời gọi bày tỏ Khuôn Mặt Rạng Ngời của Thiên Chúa Cha, một khuôn mặt đã bị hiểu lệch lạc, bị bóp méo, ngay từ nguồn gốc sự sống (x. St 3, 1-7), nhưng không phải bằng những kì công lớn lao, hay những phép lạ cả thể; bởi vì lịch sử Dân Do Thái và cuộc đời của Đức Giê-su cho thấy rằng, những kì công lớn lao và những phép lạ cả thể không những không mang lại lòng tin, nhưng còn khơi dậy lòng ham muốn không cùng những điều lạ, ngoài ra còn bị Sự Dữ xen vào khơi dậy những cách hiểu và hành động lệch lạc[1].
Vì thế, theo ý Cha, Ngài được mời gọi bày tỏ Khuôn Mặt Rạng Ngời của Thiên Chúa Cha theo một cách khác, “một cách điên rồ”, nhưng là sự điên rồ của tình yêu và khôn ngoan thần linh, qua việc:
- nhận hết vào mình thân phận của loài người chúng ta,
- đảm nhận mọi số phận đầy tai họa của con người,
- gánh lấy mọi tội lỗi của loài người,
- và đối diện với chính Sự Dữ biểu dương ở mức độ tuyệt đối.
Như thế, không phải một cách trực tiếp tội của tôi làm cho Chúa bị bắt, bị phản bội, bị bắt, bị lên án, chịu khổ hình và chịu chết. Chúa chết vì những con người cụ thể như thế trong một hoàn cảnh lịch sử như thế; nhưng cả nhân loại và từng người, kể cả chúng ta, được mời gọi thấy mình trong cách hành xử của họ. Chúa chết vì tội lỗi nhân loại là như thế. Khi nhìn ngắm Chúa, là chân lý và là sự sống, dường như bị chìm ngập trong bầu khí gian trá và thú tính, xin cho chúng ta cảm được sự kinh khủng, không thể chấp nhận của tội, và xin Chúa tha thứ và chữa lành nhân loại, chữa lành từng người chúng ta.
Và đồng thời, Chúa tự nguyện chịu khổ hình, bởi những con người cụ thể trong cuộc Thương Khó, chính là để bày tỏ cho tôi tình yêu đến cùng của Chúa dành cho tôi, dù tôi là ai và đang ở trong tình trạng nào. Tôi được mời gọi tôi nhận ra nơi những gì Đức Giê-su mang lấy trong cuộc Thương Khó, có chính bản thân tôi, như tôi là, nhỏ bé, giới hạn, yếu đuối, tội lỗi; tôi hiện diện cách trọn vẹn, được đón nhận cách trọn vẹn và được bao dung cách trọn vẹn trên đôi vai của Đức Giê-su, trong ánh mắt của Đức Giê-su, trong trái tim của Đức Giê-su.
Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc
…………………………………………….
[1] Lòng tin chỉ dựa vào phép lạ sẽ dẫn những hệ quả nghiêm trọng: (1) Thiên Chúa chỉ ở trong những điều lạ thường, còn những điều bình thường, là phần lớn cuộc đời chúng ta, thì sao? Thân phận con người rốt cuộc có là ơn huệ Thiên Chúa không? Có là đường đi dẫn đến Thiên Chúa hay không? (2) Không chấp nhận thân phận con người và không liên đới với thận phận của người khác. (3) Ma quỉ sẽ lợi dụng để khơi dậy lòng ham muốn không cùng những điều lạ, như đã làm trong Sáng Tạo (x. St 3, 1-7) và trong Lịch Sử Cứu Độ (x. Ds 21, 4-9): có điều lạ thì tin, không có thì trách móc nghi ngờ; ngoài ra, còn có những người đã ngụy tạo ra điều lạ để lừa dối mình và lừa dối nhau.